Thông tư 15/TTLT - Hướng dẫn việc quản lý kinh phí phòng và chống bệnh bướu cổ do Bộ Tài Chính ban hành Trang chủ Văn bản pháp luật
Bướu giáp nhân thường gặp ở phái yếu nhiều hơn phái mạnh. mật độ tần suất bướu giáp nhân tăng theo tuổi và gặp ở những vùng thiếu hụt i-ốt. Đa số các trường hợp phát hiện bệnh do tình cờ qua các lần đi khám tổng quát.
1 Khoa Y học hạt nhân bệnh viện trung ương Quân đội 108 TÓM TẮT Mục tiêu: Mục tiêu của nghiên cứu này là chuẩn hóa phương pháp xác định độ tinh khiết hóa phóng xạ theo Dược điển châu Âu và điều chỉnh sao cho phù hợp với hệ thống kiểm nghiệm của Trung tâm Máy gia
1.1. Khái niệm. Hình 1. Giải phẫu tuyến giáp và bướu nhân tuyến giáp. Tuyến giáp là một cơ quan nội tiết nằm ở vùng cổ trước, hình cánh bướm, có hai thùy một eo nối hai thùy, một số người có thêm thùy tháp nối với eo tuyến. Tuyến có nhiệm vụ sản xuất ra hormon có
1. Nguyên nhân gây bướu cổ. Nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến bệnh bướu cổ chủ yếu do sự thiếu hụt một lượng iod nhất định trong cơ thể gây ra. Bình thường, tuyến giáp sẽ hấp thu iod từ thực phẩm và các chất dinh dưỡng.
Những sự thật về bướu giáp đa nhân lành tính. Tác giả: ThS.BS Vũ Thành Đô. Chuyên khoa: Tim - Thận - Khớp - Nội tiết. Cập nhật: 10 Th11, 2021. Bướu giáp đa nhân lành tính là một bệnh phổ biến của tuyến giáp. Vì nó lành tính nên đa số mọi người ít quan tâm đến chúng
RFsN. Bướu giáp đơn thuần có thể lan hỏa hoặc có nhân, là tình trạng tuyến giáp to không phải ung thư, không có cường giáp, suy giáp hoặc viêm. Trừ trường hợp thiếu hụt iốt nặng, chức năng tuyến giáp bình thường và bệnh nhân không có triệu chứng, ngoại trừ tuyến giáp tăng kích thước rõ, ko đau. Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và xác định chức năng tuyến giáp bình thường. Điều trị dựa vào nguyên nhân, nhưng phẫu thuật cắt tuyến giáp bán phần là cần thiết nếu bướu giáp quá giáp đơn thuần, nguyên nhân thường gặp nhất của bướu cổ, thường thấy ở tuổi dậy thì, trong khi mang thai và khi mãn kinh. Nguyên nhân xảy ra ở những thời điểm này thường không rõ ràng. Nguyên nhân được biết đến bao gồm Các khiếm khuyết sản xuất hormone tuyến giáp nội tạiĂn các thực phẩm có chứa các chất ức chế tổng hợp hormone tuyến giáp goitrogen, ví dụ sắn, rau cải xanh, súp lơ, cải bắp, như có thể xảy ra ở những nước mà sự thiếu iốt là thường gặpThuốc có thể làm giảm sự tổng hợp của hormone tuyến giáp ví dụ, amiodarone hoặc các hợp chất có chứa iốt khác, lithium Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh bướu cổ không độc hại đơn giản Bệnh nhân có thể có tiền sử ăn ít iốt hoặc ăn quá nhiều thực phẩm gây bướu giáp, nhưng những hiện tượng này hiếm gặp ở Bắc Mỹ. Trong giai đoạn đầu, bướu cổ tương đối mềm, đối xứng và nhẵn. Sau đó, có thể phát triển nhiều nốt và nang. Sự hấp thu iốt phóng xạ tại tuyến giápXạ hình tuyến giápSiêu âm tuyến giápNồng độ thyroxine T4, triiodothyronin T3, và hormone kích thích tuyến giáp TSHTrong bướu cổ địa phương, TSH huyết thanh có thể tăng nhẹ và T4 huyết thanh có thể thấp hoặc bình thường thấp, nhưng T3 huyết thanh thường là bình thường hoặc hơi cao. Phụ thuộc vào nguyên nhânỞ những vùng thiếu iốt, các biện pháp sau giúp loại trừ tình trạng thiếu iốt Bổ sung iốt vào muốiUống dầu iốtTiêm dầu iốt hàng nămBổ sung iốt vào nước, hoa màu, hoặc thức ăn gia súcNên ngừng ăn phải các chất gây bướu giáp như sắn, bông cải xanh, súp lơ, bắp cải.Trong các trường hợp khác, sự ức chế trục dưới đồi-tuyến yên và hormone tuyến giáp ức chế sản xuất TSH và do đó kích thích tuyến giáp. Liều lượng levothyroxine vừa phải 100 đến 150 mcg/ngày đường uống tùy thuộc vào TSH huyết thanh rất hữu ích ở những bệnh nhân trẻ tuổi để giảm TSH huyết thanh xuống mức bình thường thấp. Chống chỉ định levothyroxine ở những bệnh nhân lớn tuổi có bướu nhân không độc, bởi vì những bướu này ít khi co lại và có thể che lấp vùng tự trị để levothyroxine có thể dẫn đến chứng cường giáp. Bướu giáp lớn đôi khi cần phẫu thuật hoặc iốt-131 để thu nhỏ các tuyến đủ để ngăn ngừa sự ảnh hưởng đến hô hấp hoặc nuốt hoặc để điều chỉnh các vấn đề về thẩm mỹ. Chức năng tuyến giáp thường bình nguyên nhân là thiếu iốt, bổ sung iốt là cách điều trị hiệu chặn sản xuất TSH bằng cách cho levothyroxine rất hữu ích ở những bệnh nhân trẻ tuổi hơn để ngăn chặn sự kích thích tuyến giáp và bướu cổ co thuật hoặc iốt-131 có thể cần thiết cho những bướu giáp lớn. Bản quyền © 2023 Merck & Co., Inc., Rahway, NJ, USA và các chi nhánh của công ty. Bảo lưu mọi quyền.
Lê Tuổi 65t Giới nữ Địa chỉ Bảo lộc Lý do nhập viện Bướu giáp sử Cách nhập viện 02 năm, bệnh nhân đi khám tổng quát tại Bv. Bảo Lộc thì thực hiện siêu âm phát hiện bướu giáp với kích thước nhỏ 8×11mm, được khuyên là điều trị bằng thuốc không rõ loại tại nhà và cho xuất viện. Cách nhập viện 01 tháng, người nhà thấy bướu to lên nhiều, bướu nằm bên T, nhìn xa thấy được bướu, kèm theo trong khoảng thời gian này, bệnh nhân có triệu chứng khó thở, nuốt nghẹn, đau khi ấn vào khối bướu, đôi lúc nóng bừng người, ngoài ra không có triệu chứng đi kèm khác, vì lo lắng nên bệnh nhân nhập viện ngay => nhập viện Bv. Bảo Lộc, được chẩn đoán “Bướu giáp”, được đề nghị phẫu thuật nhưng người nhà bệnh nhân không đồng ý mổ vì lý do riêng. Bệnh nhân xuất viện và ở nhà từ thời điểm này đến lúc nhập viện Bv115 Ngày 07/12/15, nhập viện 115 Diễn tiến từ lúc nhập viện đến lúc khám Bệnh nhân nhập viện với tình trạng bướu to kèm theo khó thở nhẹ, nuốt nghẹn. Được cho nghỉ ngơi và theo dõi trong 03 ngày và thực hiện các CLS, đồng thời lên chương trình phẫu thuật, ngoài ra không sử dụng thuốc hay dịch truyền gì khác. căn Bản thân chưa phát hiện bệnh lý bất thường trước đây Gia đình chưa ghi nhận bất thường Yếu tố nguy cơ bệnh nhân hay dùng thực phẩm từ họ bắp cải gia đình tự trồng III. Khám LS Khám ngày 7/12/2015 Theo dõi liên tục 7/12/2015 – 11/12/2015 Triệu chứng toàn thân Bn tỉnh, tiếp xúc được Thể trạng trung bình Da niêm nhạt, không khô, không ẩm, không dấu xuất huyết dưới da, không phù Hạch ngoại vi không sờ chạm Rung tay - Đầu mặt cổ Đầu không u lồi, không sẹo mổ cũ Mắt không trũng, không lồi Không có dấu xuất huyết dưới da Khám bướu giáp Bướu di động theo nhịp nuốt, kích thước 15×20mm ở thuỳ T, nhìn xa thấy được bướu, sờ thấy một nhân, giới hạn rõ, mật độ mềm, ấn đau và bệnh nhân khó nuốt, không nghe âm thổi. Ở thuỳ P không có bất thường gì. Sờ thấy được đường eo giáp. Ngực Cân đối, không sẹo mổ cũ, không dấu sao mạch, không tuần hoàn bàng hệ a. Tim Mỏm tim cách đường trung đòn T 1cm Tim đều, T1 T2 rõ, f = 70 l/p b. Phối Phổi trong Rì rào phế nang, dịu hai phế trường Không ran nổ, ran rít Bụng Bụng cân đối, di động theo nhịp thở, không tuần hoàn bàng hệ, không dấu sao mạch, không sẹo mổ cũ. Bụng mềm, không điểm đau khu trú, NP Murphy -, dấu óc ách - Bụng gõ trong, không mất vùng đục trước gan. Bờ trên gan ở KLS IV, đường trung đòn P, bờ dưới mấp mé bờ sườn, chiều cao gan09cm NĐR 9 l/p, âm sắc cao, không âm thổi tại các vị trí ĐM chủ bụng, ĐM thận Tiết niệu – sinh dục Không điểm đau niệu quản 02 bên Chạm thận P -, rung thận P - Chạm thận T -, rung thận T - Không thăm khám vùng sinh dục bệnh nhân không hợp tác Tứ chi, Mạch máu ngoại biên Không phù, không dấu xuất huyết dưới da Tứ chi vận động tốt, sức cơ 5/5 Mạch ngoại vi bắt được tốt ở các ĐM cánh tay, ĐM quay hai bên và ĐM đùi, ĐM chày trước, ĐM chày sau hai bên f= 70 l/p Thăm khám đặc biệt Không thăm khám vùng sinh dục cũng như vùng hậu môn trực tràng do bệnh nhân không hợp tác. V. Tóm tắt bệnh án Bệnh nhân nữ, 65t, nhập viện vì bướu giáp với các triệu chứng nuốt nghẹn, khó thở, đôi lúc nóng bừng người. Khám thấy bướu giáp như trên, Rung tay - VI. Chẩn đoán sơ bộ Bướu giáp đơn nhân lan toả VII. Chẩn đoán phân biệt Nang giáp Ung thư giáp VIII. Biện luận LS Bệnh nhân nữ, nhập viện vì các triệu chứng như trên, nghĩ nhiều đến bướu giáp đơn nhân lan toả, bởi lẽ trên lâm sàng, khi khám, sờ thấy khối bướu với mật độ mềm, ấn thấy một nhân, eo giáp có sờ được nhưng không rõ ràng, đồng thời, bệnh nhân lại có cảm giác nuốt nghẹn, khó thở, nghĩ đến việc tăng sinh tế bào tuyến giáp, gây chèn ép vào thực quản/khí quản. Ở đây, không hướng đến tình trạng bệnh giáp gây nên HC cường giáp, vì rung tay -, tình trạng tiêu tiểu đều không thấy bất thường, việc nóng bừng người có lẽ do thời tiết tại khu vực và sự chủ quan của bệnh nhân. Vì vậy, nghĩ nhiều nhất ở bệnh nhân này là bệnh lý “Bướu giáp đơn nhân lan toả” không kèm HC cường giáp Mặc khác, vì nhân ở bệnh nhân này là ấn xẹp, vậy cũng có thể đó là một nang giáp phì đại, đồng thời do bệnh cảnh nang giáp và bướu giáp gần tương tự nhau, chỉ có thể dựa trên CLS nên chưa thể loại trừ ngay được, cần chờ đợi thêm kết quả từ SA để kết luận Bệnh nhân này lớn tuổi, lại có triệu chứng nuốt nghẹn, khó thở, ngoài việc nghĩ đến bướu giáp thì hướng đến một bệnh lý về K là cần thiết, ở đây, nghĩ đến K giáp, mặc dù khối bướu sờ thấy không cứng chắc và cũng không có điểm vôi hoá như bệnh lý K, nhưng dù vậy vẫn không nên loại trừ, vì có thể đây là giai đoạn đầu của bệnh lý. Vì thế, đề nghị làm FNA để sinh thiết. IX. Đề nghị CLS Huyết học và sinh hoá theo dõi các chất năng đông máu và thể trạng của bệnh nhân, dự phòng phẫu thuật và hậu phẫu Miễn dịch học T3 T4 TSH. Nhằm tầm soát bệnh nhân có “HC cường giáp” hay không? Siêu âm tuyến giáp Tầm soát bệnh lý bướu giáp ECG vì bệnh nhân lớn tuổi, theo dõi bệnh lý tim mạch, dự phòng những ảnh hưởng từ bệnh lý bướu giáp gây nên. FNA sinh thiết để loại trừ K giáp Kết quả cận lâm sàng học Eos% hoá chưa phát hiện chỉ số bất thường dịch TSH uIU/ml – T3 ng/dl – T4 pg/ml – âm Bướu giáp thuỳ T đơn nhân, không tăng sinh mạch máu Eo giáp không to Hạch cổ - X. Biện luận chẩn đoán Biện luận lâm sàng được củng cố bởi kết quả từ sinh hoá và Siêu âm là hai dụng cụ chính yếu, đã góp phần chứng tỏ đây là một “bướu giáp đơn nhân lan toả” đơn thuần. Vì T3, T4, TSH đều bình thường. Vậy bệnh nhân này không tồn tại HC cường giáp Siêu âm kết quả đưa ra đây là bướu giáp, có một nhân, không tăng sinh mạch máu Từ đó, chẩn đoán trên LS được củng cố và phù hợp với kết quả từ CLS XI. Chẩn đoán xác định Bướu giáp đơn nhân lan toả
bệnh án bướu giáp đa nhân